do gây tê tủy sống. Trong số này, 10 người chết có liên quan đến biến chứng gây mê toàn diện xảy ra sau đó do gây tê tủy sống không đủ để phẫu thuật. Thiếu kinh nghiệm lâm sàng và cách tiếp cận không phù hợp với thất bại là nguyên nhân gây tử vong cho mẹ. Vì có những lựa chọn rất hạn chế để tiếp cận sự thất bại, nên hết sức cảnh giác để bảo đảm thực hiện tốt trong khi gây tê tủy sống nhằm giảm thiểu tỷ lệ thất bại cũng như các biến chứng cho mẹ và thai nhi. Thực hiện kỹ thuật cẩn thận, tỷ lệ thất bại thấp có thể đến 1% mặc dù các nghiên cứu khác nhau đượctrích dẫn tỷ lệ thất bại lên đến 17%.
Phòng ngừa tiêm nhầm thuốc là tối quan trọng. Ngoài thất bại, tiêm nhầm thuốc có thể gây tử vong mẹ (ví dụ: axit tranexamic). Những lỗi như vậy không thể sửa chữa và phải phòng tránh bằng cách kiểm tra lại thuốc trước khi tiêm, sử dụng ống tiêm chứa sẵn thuốc và sử dụng kết nối có khóa
Tốc độ khởi phát, chất lượng và thời gian phong bế chỉ được xác định bởi liều thuốc tê. Sự lan truyền và do đó mức độ phong bế cảm giác được xác định tỉ trọng/nồng độ của dung dịch, thể tích thuốc tê và tư thế bệnh nhân. Sự lan truyền của thuốc tê đẳng trọng khó dự đoán hơn nhiều so với thuốc tê tăng trọng. Dung dịch nhược trương có lợi ích khi tiêm ở vị trí ngồi, nhưng không phải không có nguy cơ hạ huyết áp. Sử dụng thuốc bổ trợ có thể đẩy nhanh sự khởi phát, kéo dài thời gian và cải thiện chất lượng tê nhưng không thể ngăn ngừa được sự thất bại. Theo nghiên cứu của Ginosar và cộng sự, liều ED50 (liều có hiệu quả ở 50%) của bupivacaine là 7,5 mg và ED95 (phẫu thuật thành công) là 11 mg. Các yếu tố giải phẫu như gù và / hoặc vẹo cột sống làm cho kỹ thuật khó khăn và gây trở ngại cho sự lan truyền. Để đạt được tê đối xứng và đồng nhất, thuốc tê phải khuếch tán tự do trong dịch não tủy, không có rào cản giải phẫu. Chẳng hạn, dây chằng nâng đỡ tủy sống cũng có thể tạo thành một rào cản đối với sự lan truyền của thuốc tê trong khoang dưới nhện. Bằng cách hoạt động như vách ngăn, những bất thường này mặc dù không phổ biến, có thể gây ra block một bên, hoặc hạn chế lan truyền về phía đầu. Các ví dụ khác về các bệnh lý cột sống có thể cản trở sự lan truyền hoặc ảnh hưởng của tiêm bao gồm hẹp ống sống và sựdính từ phẫu thuật cột sống ….Rất hiếm khi sự lan truyền không đầy đủ hoặc thất bại có thể được giải thích bởi bệnh lý thần kinh không có triệu chứng trong ống đốt sống.
Hiệu quả và tiềm lực của thuốc có thể bị thay đổi bởi các yếu tố khác nhau như tiếp xúc với ánh sáng mặt trời kéo dài, pha loãng quá mức của thuốc, hóa chất
không tương thích sau khi trộn với các thuốc khác, hoặc pKa bị thay đổi do tương tác với dịch não tủy kiềm. Trong điều kiện như vậy, ngay cả khi toàn bộ thuốc đạt đến dây thần kinh, tác dụng mong muốn có thể không có được. Trộn hai loại thuốc có thể gây ra kết tủa hoặc hạ thấp pH làm thay đổi sự di chuyển của thuốc gây tê tại chỗ màng tế bào thần kinh. Kháng thuốc tê do đột biến kênh natri đã được báo cáo là một nguyên nhân của tác dụng thuốc không hiệu quả ở một số bệnh nhân.
Gây tê tủy sống bằng kim 27 hoặc 29 G có tỷ lệ thất bại tương đối cao hơn do vấn đề kỹ thuật và chỉ có thể được cải thiện với thực hành. Một bác sĩ gây mê có kinh nghiệm sẽ đánh giá chính xác trước phẫu thuật, kiểm tra thiết bị, và thực hiện thủ thuậtmột cách bình tĩnh, không vội vàng, thuyết phục được sự tự tin và hợp tác của bệnh nhân, và do đó cải thiện tỷ lệ thành công.
Về phương diện lâm sàng, gây tê có thể hoàn toàn không mất cảm giác và vận động hoặc mất cảm giác vận động tốt nhưng sự lan truyền không đủ về phía đầu, không phù hợp để gây tê phẫu thuật. Cũng có thể gặp chỉ block một bên do tư thế hoặc rào cản giải phẫu do sự hiện diện của dây chằng dọc ngăn cản sự lan truyền của thuốc. Liều thuốc không đủ hoặc chỉ một phần thuốc vào được khoang dưới nhệncó thể dẫn đến tê không hoàn toàn và không đủ để phẫu thuật
từ gây tê tủy sống sang gây mê nên <1% trong mổ chủ đông, và <3% trong mổ lấy thai cấp cứu.
Một lưu đồ đơn giản như được mô tả có thể tùy chọn tốt nhất trong các trường hợp(xem hình)

